Hai người lắp cùng một bộ chi tiết có thể cho ra hai cỗ máy khác nhau về độ êm, độ chính xác và tuổi thọ. Khác biệt nằm ở những chi tiết nhỏ trong quá trình lắp.
Chuẩn bị trước khi lắp
Kiểm mọi chi tiết khi nhận. Đo các kích thước quan trọng. Phát hiện sai lúc này rẻ hơn nhiều so với phát hiện khi đã lắp một nửa.
Làm sạch. Phoi, dầu, bụi từ gia công. Phoi kim loại trong ổ trục là án tử cho ổ trục đó.
Gỡ ba via. Cạnh sắc từ gia công làm chi tiết không áp sát nhau và gây sai số lắp.
Sắp xếp theo thứ tự lắp. Và có nhãn. Tìm chi tiết giữa chừng làm mất mạch và dễ nhầm.
Chuẩn bị dụng cụ. Cờ lê lực, thước đo, đồng hồ so nếu cần, keo khoá ren, mỡ.
Đọc trước toàn bộ quy trình. Biết bước nào không quay lại được. Có những mối ghép mà lắp rồi thì không tiếp cận được nữa.
Chỗ làm việc sạch và đủ sáng. Nghe hiển nhiên và nó ảnh hưởng thật tới chất lượng.
Siết bu lông đúng cách
Lực siết có ý nghĩa. Nó tạo lực kẹp giữ mối ghép. Quá lỏng thì mối ghép dịch dần dưới rung động; quá chặt thì kéo giãn bu lông vượt giới hạn hoặc hỏng ren.
Dùng cờ lê lực. Với mọi mối ghép quan trọng. Cảm giác tay không đáng tin, và chênh lệch giữa người này với người khác rất lớn.
Tra bảng lực siết. Theo đường kính, cấp bền bu lông và vật liệu chi tiết. Ren trong nhôm chịu được lực thấp hơn nhiều so với ren trong thép.
Siết theo thứ tự. Với mặt bích nhiều bu lông, siết đối xứng theo hình sao, nhiều vòng tăng dần. Siết lần lượt quanh vòng làm chi tiết vênh.
Keo khoá ren. Với mọi mối ghép chịu rung. Chọn loại tháo được hay khoá vĩnh viễn tuỳ mối ghép.
Vòng đệm. Vòng đệm phẳng phân bố lực; vòng đệm vênh chống nới. Dùng đúng loại theo thiết kế.
Không dùng lại bu lông đã siết chặt nhiều lần. Đặc biệt với bu lông cấp bền cao — chúng bị kéo giãn.
Đánh dấu sau khi siết. Vạch sơn qua đầu bu lông và chi tiết. Nhìn là biết bu lông đã nới hay chưa. Kỹ thuật đơn giản và rất hữu ích cho bảo trì.
Lắp vòng bi và căn chỉnh
Ép đúng vòng. Lắp vòng trong thì ép lên vòng trong; lắp vòng ngoài thì ép lên vòng ngoài. Ép qua bi làm hỏng rãnh lăn ngay lập tức và hỏng đó không thấy được bằng mắt.
Dùng ống ép chuyên dụng. Hoặc ống có đường kính phù hợp. Không gõ búa trực tiếp.
Nhiệt để lắp. Với lắp chặt, làm nóng chi tiết bao hoặc làm lạnh trục giúp lắp dễ mà không cần lực lớn.
Kiểm đồng tâm. Hai ổ trục trên cùng một trục phải đồng tâm. Lệch tâm gây tải phụ và mòn rất nhanh. Kiểm bằng cách quay trục và cảm nhận độ nặng đều không.
Kiểm độ vuông góc. Mặt lắp ổ trục vuông góc với trục quay.
Căn chỉnh khớp nối trục. Hai trục nối nhau phải thẳng hàng. Lệch gây rung và mòn khớp nối. Dùng đồng hồ so nếu yêu cầu cao.
Kiểm sau khi lắp. Quay bằng tay hết hành trình. Phải mượt, không có điểm nặng, không có tiếng lạ, không có độ lắc cảm nhận được.
Nếu không mượt thì dừng lại. Đừng cho chạy điện với hy vọng nó tự chạy trơn. Nó sẽ hỏng thứ gì đó.
Đi dây và hoàn thiện
Đi dây theo thiết kế. Không tuỳ tiện. Dây đi sai đường sẽ bị kẹp, bị cọ, hoặc cản chuyển động.
Kiểm chuyển động hết hành trình. Trước khi cấp điện, quay từng khớp hết biên và xem dây có bị kéo căng hay cọ vào đâu không.
Để dư dây ở chỗ chuyển động. Đủ để khớp đi hết hành trình mà dây vẫn chùng.
Cố định hai đầu đoạn chuyển động. Để lực không truyền tới đầu nối.
Bán kính uốn. Không uốn gắt hơn quy định của cáp. Đây là nguyên nhân đứt ngầm sau vài tháng.
Ghi nhãn. Mọi cáp, hai đầu. Việc mất mười phút và tiết kiệm nhiều giờ sau này.
Kiểm nối đất. Vỏ kim loại phải nối đất. Đo điện trở để chắc chắn.
Kiểm trước khi cấp nguồn. Đo thông mạch, đo cách điện, kiểm cực nguồn. Cấp nguồn với dây nối sai làm hỏng thiết bị trong một giây.
Cấp nguồn từng bước. Nguồn logic trước, kiểm, rồi mới cấp nguồn động lực. Và lần đầu nên có nguồn hạn dòng.
Kiểm tra sau lắp ráp
Danh sách kiểm tra. Viết ra và làm theo. Trí nhớ bỏ sót, đặc biệt khi đã mệt sau một ngày lắp.
Kiểm cơ khí. Mọi bu lông đã siết, không có chi tiết thừa, không có dụng cụ bỏ quên bên trong.
Kiểm chuyển động bằng tay. Từng khớp, hết hành trình.
Kiểm giới hạn hành trình. Công tắc giới hạn có hoạt động không, có đặt đúng vị trí không.
Kiểm dừng khẩn cấp. Bấm thử và xác nhận nguồn động lực bị cắt thật. Đây là kiểm tra không được bỏ qua bao giờ.
Chạy từng khớp ở tốc độ rất thấp. Xác nhận chiều quay đúng, phạm vi đúng, không có tiếng lạ.
Đo dòng ở tư thế nặng nhất. Ghi lại làm đường cơ sở cho việc theo dõi sau này.
Chạy thử dài. Vài giờ với chu trình lặp lại. Kiểm nhiệt độ, kiểm bu lông có nới không, kiểm dây có bị cọ không.
Ghi lại mọi số đo. Đây là trạng thái ban đầu để so sánh về sau, và không có nó thì không biết máy đã xuống cấp bao nhiêu.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao phải dùng cờ lê lực?
Vì lực siết tạo lực kẹp giữ mối ghép — quá lỏng thì mối ghép dịch dần dưới rung động, quá chặt thì kéo giãn bu lông hoặc hỏng ren. Cảm giác tay không đáng tin.
Sai lầm nghiêm trọng nhất khi lắp vòng bi?
Ép qua vòng không phải vòng đang lắp. Lực truyền qua bi làm hỏng rãnh lăn ngay lập tức, và hỏng đó không thấy được bằng mắt.
Nên làm gì nếu khớp quay bằng tay không mượt?
Dừng lại và tìm nguyên nhân. Đừng cho chạy điện với hy vọng nó tự chạy trơn — nó sẽ hỏng thứ gì đó.
Kỹ thuật đơn giản nào giúp kiểm bu lông về sau?
Vạch sơn qua đầu bu lông và chi tiết sau khi siết. Nhìn vạch lệch là biết bu lông đã nới, không cần tháo ra kiểm.
Đọc thêm trong Lập trình điều khiển và Bảo trì & phụ tùng.